Đây là nội dung mới được hướng dẫn tại Thông tư số 04/2020/TT-BTP về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch do Bộ Tư pháp ban hành ngày 28/5/2020.
(Một số loại Giấy tờ hộ tịch - Ảnh minh họa)
Cụ thể, theo hướng dẫn tại Điều 6 Thông tư thì việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng.
Bên cạnh đó, trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.
Đáng chú ý, theo hướng dẫn tại khoản 5, Điều 12 Thông tư thì cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ từ chối giải quyết trong trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người cùng giới tính hoặc kết hôn với người nước ngoài tại Cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam.
Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng hướng dẫn, Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, sinh con, người con sống cùng với người cha, khi người cha làm thủ tục nhận con mà không liên hệ được với người mẹ thì không cần có ý kiến của người mẹ trong Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con.
Nếu có Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người mẹ thì phần khai về người mẹ được ghi theo Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người mẹ. Nếu không có Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người mẹ thì ghi theo thông tin do người cha cung cấp; người cha chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp.(Khoản 1, Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP)
Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16 tháng 7 năm 2020 và thay thế Thông tư số 15/2015/TT-BTP./.
Phòng PBGDPL